Hiển thị các bài đăng có nhãn Ông Táo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ông Táo. Hiển thị tất cả bài đăng

Mảnh ghép

Mùa xuân là thời khắc đẹp nhất trong năm, ai đi xa cũng mong mỏi đến ngày tết để tìm về không khí sum vầy ấm cúng cùng gia đình. Như bao gia đình khác nhà mình cũng đã có những mùa xuân ấp áp, yêu thương như thế và những mùa xuân đó sẽ còn mãi nếu không có ngày tết năm đó.

Ba bảo: “Mỗi con người là một mảnh ghép, mảnh ghép đó sẽ tạo nên một gia đình hoàn hảo khi tìm được cho mình những ghép khác. Mẹ là mảnh ghép đầu tiên trong cuộc đời của ba nhưng chỉ một mình mẹ thì chưa đủ để tạo nên sự hoàn hảo đó. Chỉ cho đến khi chị và con ra đời thì đó mới là những mảnh ghép cuối cùng tạo nên sự hoàn hảo trong gia đình mình”. Chị em con đã sống trong tình yêu thương vô bờ bến của ba và mẹ. Tụi con hạnh phúc khi được làm những mảnh ghép cuối cùng tạo nên sự hoàn hảo trong một gia đình.

Hôm đó đúng vào ngày tết, chị em con đang mừng thọ ông bà nội thì ba gọi về. Khi con bước vào nhà mẹ đang ngồi khóc nức nở, nép sau lưng ba là một cậu nhóc trạc tuổi con. Ba nhìn tụi con bối rối rồi chậm rãi bảo: “đây là em hai con”... Mảnh ghép thật sự là cuối cùng trong cuộc đời ba xuất hiện. Ba xin mẹ và các con tha thứ, mọi người lặng đi... Từng mảnh ghép tan vỡ...

Mùa xuân ấy và nhiều mùa xuân sau nữa nhà mình không còn những tiếng cười giòn giã như xưa.

Qua tết con và chị xa nhà đi học, đi như một sự trốn chạy. Tết đến khi mọi người háo hức trở về nhà thì tụi con lại lang thang trên những nẻo đường ngập nắng để cảm nhận nỗi nhớ nhà, nỗi buồn khi phải đối diện với ngày tết... Tết đã không còn ý nghĩa trong gia đình mình. Từ lúc nào con cũng quên mất khái niệm của ngày tết.

Năm năm đi qua chị hai lấy chồng, con ra trường cũng ở lại Sài Gòn, “mảnh ghép” của ba không biết biền biệt nơi nào, chỉ đúng ngày tết đến thăm ba một lần rồi ra đi.

Mẹ bảo “mảnh ghép” không được đến trường như chị em con. "Mảnh ghép" theo mẹ của nó sống một cuộc sống lam lũ, thà cày thuê cuốc mướn chứ không nhận những đồng tiền cấp dưỡng của ba. Rồi mẹ lại bảo ngày “mảnh ghép” cưới vợ, ba đến dự trong tư cách khách mời, đêm về mẹ nghe tiếng ba thở dài...

Thêm một mùa xuân nữa đang về, mẹ hỏi bao giờ con về? Con chạnh lòng lại tết nữa rồi sao? Chị hai nhắn tin “tết về sớm nghe nhóc. Quá khứ qua rồi nhóc ạ. Ba cần chị em mình thông cảm”.

Một tin nhắn nữa lại đến, lần này không phải của chị hai. “Cho phép em gọi chị là chị ba. Chị ba, em không giận ba, em yêu các chị” - tin nhắn của “mảnh ghép”. Đọc những dòng chữ chưa hết lỗi chính tả con òa khóc, áp điện thoại vào ngực mình để cảm nhận nỗi đau thức dậy trong tâm hồn. Phải chăng con đã quá ích kỷ?

Thêm một tin nhắn nữa lại đến: “con gái! mỗi con người là một mảnh ghép trong cuộc sống, "mảnh ghép" đó sẽ tạo nên một gia đình hoàn hảo khi con người biết hoàn thiện mình. Ba đã sai khi để những "mảnh ghép" của ba chịu nhiều đau khổ. Cả nhà đang mong con về”.

Ba ơi! Mùa xuân này những "mảnh ghép" của ba sẽ thôi không còn vụn vỡ nữa... Nhà mình sẽ vang những tiếng cười như xưa....!

LINH GIANG

Những chiếc bánh cốm thuở nhỏ

Ngày trước, một trong những sản vật không thể thiếu trong những ngày Tết ở quê tôi là những chiếc bánh cốm to đùng, gia đình nào cũng tự làm để cúng tổ tiên, đãi khách. Thời ấy, có lẽ do nghèo quá nên chỉ có những chiếc bánh to hơn cả viên gạch này người ta ăn mới đã! Đó cũng là món ăn mà bọn trẻ chúng tôi luôn háo hức chờ đợi vì nó là tín hiệu Tết đã đến.

Người làng tôi lấy sự tiến bộ của “công nghệ” làm bánh cốm để đánh dấu sự phát triển của thời đại. Những năm 80 của thế kỷ trước, quê tôi làm bánh cốm còn hoàn toàn thủ công. Cuối năm, nhà nào cũng chuẩn bị vài mươi ký nếp thóc. Năm bảy nhà tập trung lại làm lò rang nếp. Một cái chảo to đùng đặt giữa bếp lò đỏ rực, người ta thay phiên nhau dùng những đôi đũa tre dài để khấy cho nếp nổ đều, bóc vỏ. Rang xong, nếp đổ ra nia, phụ nữ thi nhau sàng để bỏ vỏ. Nhà nào nhà nấy hì hục giã. Đường đen nạo sẵn dào vào bột nếp, chà đều cho đường và bột quyện vào nhau. Sau khi ủ bột một đêm, nhà nào nhà nấy lại hì hục dện cốm bằng những khuôn gỗ to hơn viên gạch.

Cả làng chỉ có vài cái khuôn gốm, mỗi lần dện cốm phải chạy mượn khắp làng. Bọn trẻ chúng tôi luôn thèm thuồng nhìn những bánh cốm chất đầy nia. Thỉnh thoảng được người lớn cho vài nắm bột thừa, cả bọn mừng húm, miệng đứa nào đứa nấy dính đầy bột, trắng phau. Sau khi dện cốm, ba má tôi thường dùng dao cắt gọt cho đều những góc cạnh của bánh cốm. Hai anh em tôi háo hức đứng chờ để xí từng phần bột thừa. Một lần nọ, khi người lớn đi vắng, anh em tôi len lén bẻ dần, bẻ dần từng góc cạnh của những chiếc bánh cốm. Hai đứa không dám lấy ăn hẳn một bánh mà cái nào cũng bị bẻ nham nhở. Khi ba má về, hai anh em tôi bị một trận đòn nên thân.

Những năm 90, “công nghệ” làm cốm quê tôi tiên tiến hơn. Những ngày cuối tháng Chạp, cứ một lát lại nghe một tiếng “đùng” rất to, rất đã. Đó là tiếng “rang nổ”, có người gọi là “bụp” cốm. Bấy giờ, nếp không còn rang bằng chảo nữa. Gạo nếp bỏ vào một cái ống gang đúc, khóa kín, đốt nóng, xoay đều cho nếp nổ. Khi rang xong, người ta đập một cái để mở nắp ống gan, một tiếng nổ “đùng” dội cả vùng, nghe quen thuộc nhưng có người vẫn giật mình. Người ta không còn giã bột cốm nữa mà đã có máy xay, ai cũng trầm trồ khen hiện đại. Cả làng chỉ có một lò “rang nổ” nên phụ nữ, trẻ em mang nếp xếp hàng chờ cả ngày mới đến lượt. Thế nhưng, người ta không mệt mỏi, cáu gắt; ngược lại ở lò “rang nổ” lúc nào cũng đúng là vui như Tết. Gần Tết, gặp nhau người ta hỏi thăm “năm nay nhà ăn Tết mấy đùng?”. Người làng tôi dùng tiếng “đùng” của rang cốm làm đơn vị đo lường mức độ ăn Tết tô hay nhỏ của mỗi nhà.

Tiếng “đùng” rang cốm ở quê tôi ngày càng thưa dần. Những Tết gần đây, âm thanh thân quen ấy đã mất hẳn. Năm nay, quê tôi có hẳn một cái máy làm cốm theo công nghệ hiện đại của một cơ sở mua về Đà Nẵng. Chỉ cần đưa đến vài ký nếp, dây chuyền khép kín này sẽ cho ra những chiếc bánh cốm trắng tinh, mịn màng, vuông vức, góc cạnh sắc sảo. Thế nhưng, vẫn không có mấy người đưa nếp đến làm hay mua cốm. Bây giờ, đời sống khá hơn, ngày Tết trong nhà đã có nhiều loại bánh trái, thức ăn; người ta không nhất thiết phải làm cốm nữa.

Với tôi, những nắm bột cốm tranh nhau xí phần ngày nào, những miếng cốm bẻ trộm từ các góc cạnh của chiếc bánh cốm ngày xưa vẫn là món ăn ngon nhất trong ngày Tết thuở nhỏ. Tết lại về, làm sao quên được!

TẤN LỘC

Ông Táo

Thần Bếp hay còn gọi là ông Táo, Táo quân, ông Công, ông vua Bếp. Ông Táo có nhiệm vụ ghi chép tất cả những hành vi và lời nói của những người ở trong gia đình thần trông nom. Hàng năm cứ vào ngày hai mươi ba tháng chạp ông Táo, cưỡi cá chép về trời tâu với Ngọc Hoàng thượng đế trong một bản tường trình gọi là Sớ Táo quân nói về những chuyện đã xẩy ra trong năm qua của gia chủ và những việc thiện ác của nhân gian. Tùy theo lời ông Táo tâu trong sớ mà gia đình ông Táo đang ở trong năm tới sẽ gặp được sự lành hay dữ.

Ðể đưa tiễn ông Táo về chầu trời, người ta làm lễ cúng tiễn gọi là Chạp ông Công. Ðồ cúng thường là hoa quả, xôi gà hay chân giò heo. Ðể hối lộ, đấm mồm, đấm mép Thần Táo, trong các món đồ cúng, người Trung Hoa có món mật mía, hầu mong ông Táo nói toàn những chuyện ngọt như đường như mật cho Ngọc Hoàng nghe. Thần Táo là một bộ ba hai ông một bà. Chúng ta thường được kể chuyện về bộ ba ông bà thần bếp như sau: Ngày xưa có hai vợ chồng chú tiều phu rất nghèo khổ nọ sống ở ven rừng, không có con cái. Người chồng hay rượu chè tối ngày bỏ bê công ăn việc làm:

Tẩn mẩn tê mê vì cô bán rượu,

Liệt chiếu liệt giường vì chị bán nem.

Người vợ đã nhiều lần can gián. Nhưng người chồng vẫn chứng nào tật nấy, tối ngày ngâm nga:

Còn trời, còn nước, còn non,
Còn cô bán rượu, anh còn say sưa

Càng say sưa rượu chè, không những bỏ bê việc làm ăn mà người chồng lại càng hành hạ, đánh đập vợ. Người vợ vì thương chồng nhẫn nhục chịu đựng nhưng một ngày kia người chồng say bí tỉ “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân”, đánh đập vợ tàn nhẫn rồi đuổi vợ đi. Người đàn bà đi lang thang vào mãi tận sâu trong rừng. Ðến tối đêm thì thấy một ánh lửa ở một căn nhà giữa rừng. Chị gõ cửa vào xin tá túc. Chủ căn nhà là một người thợ săn sống một mình. Chị kể lể sự tình, người thợ săn thương tình chấp thuận cho chị ở lại. Sau đó hai người sống với nhau như vợ chồng. Người thợ săn rất yêu vợ. Người tiều phu chồng cũ thấy vợ bỏ đi đâm ăn năn hối hận rồi một sáng nọ quyết định đi vào rừng tìm vợ. Ðến xẩm tối, người này cũng đến căn nhà giữa rừng. Gõ cửa xin vào tá túc. Một người đàn bà ra mở cửa. Anh nhận ra chính là vợ mình. Hai người mừng tủi gặp lại nhau. Người tiều phu năn nỉ người vợ trở về sống với mình. Hai người đang chuyện trò thắm thiết với nhau bỗng người thợ săn về nhà. Người đàn bà sợ hãi vội dấu người chồng cũ vào đống lá. Người thợ săn đem con thú mới săn được bỏ vào đống lá để thui. Người thợ rừng, chồng cũ của người đàn bà không dám xuất đầu lộ diện sợ mang tai họa làm đổ vỡ hạnh phúc của người vợ, đành cam chịu chết cháy. Thấy người tiều phu chồng cũ bị chết cháy, người đàn bà vẫn còn yêu người chồng cũ tự cho rằng mình đã giết người chồng cũ vì dại dột dấu anh ta trong đống lá. Bà liền nhẩy vào đống lửa chết theo. Người thợ săn thấy vợ mình tự thiêu, thương vợ tưởng mình đã làm điều gì trái nghĩa khiến nàng phải tự tử nên cũng nhẩy vào đống lửa chết theo.

Một truyền thuyết khác tương tự ở vùng đồng ruộng lại kể rằng: Ngày xưa có hai vợ chồng rất yêu nhau nhưng vì quá nghèo phải bỏ nhau. Sau người vợ lấy được một người chồng giầu có. Một hôm tình cờ người chồng cũ đi ăn xin đến nhà người vợ cũ. Người vợ đem tiền của ra giúp chồng. Nhân lúc đó người chồng mới về. Người đàn bà dấu chồng cũ trong đống rơm. Người chồng mới đốt rơm lấy tro bón ruộng. Người chồng cũ chịu chết cháy để giữ hạnh phúc cho vợ. Người vợ cảm kích nhẩy vào lửa chết theo. Ông chồng mới thương vợ cũng nhẩy vào đống lửa chết cháy. Ngọc Hoàng động lòng thương thấy ba người đều chết cháy vì tình vì nghĩa nên phong cho họ thành bộ ba ông bà Táo chụm đầu vào nhau trong bếp lửa. Thần bếp của chúng ta vì thế có một bà hai ông và gọi là Thần Táo.

Hàng năm chỉ ông Táo về trời trình thượng đế còn bà Táo ở lại nên nếu ông Táo mách chuyện gì không tốt với Thượng đế thì bà Táo ở lại sẽ chịu những lời đắng cay của người đời:

Gió đưa ông Bếp về trời,

Bà Bếp ở lại chịu lời đắng cay.

Táo là gì?

Trước khi đi tìm nguồn cơn, khúc nhôi của câu chuyện này, ta hãy tìm hiểu xem tại sao lại gọi thần bếp là Táo. Táo là gì? Từ Táo có nghĩa là ông thần Bếp. Táo có gốc Tá - có nghĩa là Lửa. Mặt Trời. Ta thấy từ “tá” đi đôi với từ “hỏa” như trong những từ ghép “tá hỏa”, “tá hỏa tam tinh”. Cổ ngữ Mường Việt gọi các vị thần tổ phái nam thuộc dòng mặt trời, dòng lửa là Tá ví dụ Tá Cần, tá Cài. Theo bài hát tế Ðẻ Ðất Ðẻ Nước tức Mẹ Ðất Mẹ Nước ở Thanh Hóa thì vua Hùng Vương Dịt Dàng và tá Cài cùng sinh ra từ trăm cái trứng của bà Ngu Cơ, tức bà Âu Cơ:

Trứng một đẻ ra ông Dịt Dàng,

Trứng hai đẻ ra ông Lang Tá Cài,

Trứng ba nở ra ông Lang Tá Cần . . .

Ba Tư ngữ “Tarr” là thần lửa. Ai Cập ngữ Ptah, Tatom, Tatum là thần mặt trời. Tá là tổ, là tỏ, là mặt trời, là lửa. Ông Táo là ông Tá , ông Lửa, tức ông Thần Bếp Lửa. Từ táo liên hệ tới lửa nên còn có các nghĩa phụ khác là khô, cứng như bị “táo bón”, cây “táo”. Cây táo là loại cây chịu đựng được khô hạn. Quả táo cũng được phơi khô dùng để hầm thức ăn và làm vị thuốc. Quả táo là quả khô có dương tính. Ông Táo là Thần Bếp lửa.

Bếp là gì? Bếp là nơi có lửa nấu thức ăn nước uống. Bếp có gốc bế – ruột thịt với “bễ” có nghĩa là ống thổi lửa như ống bễ thợ rèn, kéo bễ thổi lửa như thường ví hai cái lỗ mũi như hai cái ống bễ. Bếp liên hệ với “bật” là làm sáng lên như bật đèn, bật lửa, bật diêm quẹt.... Bễ, bếp, bật... liên hệ với Phạn “bhà-”, sáng, làm sáng lên. Vậy bếp liên hệ với lửa. Tóm lại ông Táo là ông Lửa, ông Thần Bếp Lửa.

Tại sao thần táo lại cỡi cá chép về chầu trời?

Theo truyền thuyết, thần Táo cỡi cá chép về chầu Ngọc Hoàng. Trong các món đồ cúng ông Táo có món cá chép còn sống bơi trong chậu nước để ông Táo dùng làm phương tiện di chuyển về trời. Tại sao Thần Táo lại cưỡi cá chép? Ông Táo có thể cỡi cá chép bay về trời được vì cá chép có thể hóa ra rồng bay lên mây, lên trời được. Cá chép “hóa rồng” thấy qua câu ca dao sau này:

Bao giờ cá chép hóa rồng,

Bõ công cha mẹ bế bồng ngày xưa.

Theo truyền thuyết thì:

Mồng bốn cá đi ăn thề,

Mồng tám cá về, cá vượt Vũ-môn.

Vũ-môn là một chỗ có nhiều ghềnh thác trên Trường Giang tức sông Dương Tử thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay. Cứ đến ngày mồng tám tháng tư thì cá chép ở các nơi qui tụ về chỗ ghềnh thác này để thi nhẩy. Con nào nhẩy vượt qua được ba bậc của ghềnh thì hóa thành rồng. Cá chép hóa rồng nên cá chép cũng được dùng làm biểu tượng cho vua Rồng Lạc Long Quân. Người Mường thờ cá chép coi như là Lạc Long Quân và con nai sao là Âu Cơ. Chúng ta cũng coi cá chép là biểu tượng cho Lạc Long Quân. Chứng tích cá chép liên hệ đến Lạc Long Quân thấy qua câu sử miệng ca dao cổ ở làng Lệ Mật, Gia Lâm ngoại ô Hà Nội:

Ðến ngày 23 tháng ba,

Dân trại ta vượt Nhị Hà thăm quê,

Kinh Quản, Kinh Cự đề huề,

Hồ Tây cá nhảy đi về trong mây.

Cứ đến ngày 23 tháng 3 âm lịch, dân làng Lệ Mật đánh cá ở giếng đình để lấy “cá đóng dấu đem dâng thánh ăn gỏi. Ðó là những con cá chép có dấu son đỏ trên vẩy. Dân làng bảo đó chính là Hồ Tây cá nhẩy đi về trong mây” (Ðặng Văn Lung, Nguyễn Thị Huế, Trần Gia Linh, Văn Hóa Luy Lâu và Kinh Dương Vương, NXB Hội Nhà Văn, 1998 tr.61).

Hồ Tây là hồ Thầy, hồ Mặt trời lặn, hồ Lạc Long Quân. Cá nhẩy đi về trong mây tức là cá hóa long chính là cá chép, cá biểu của Lạc Long Quân. Câu cá chép hóa rồng, cá vượt Vũ Môn cũng chỉ về sự học hành đỗ đạt, làm nên danh phận. Ngày xưa chỉ phái nam mới học hành thi cử làm nên công danh vì thế cá chép vượt Vũ môn đã được người Nhật đem vào ngày lễ Con Trai vào tháng 5. Tại sao lại chọn tháng 5. Xin thưa số 5 theo Dịch là Li, lửa, mặt trời, dương. Trong ngày lễ Con Trai, nhà nhà người Nhật đều treo phướn cá Koi, một loại cá chép màu rất đẹp với niềm mơ ước là con trai mình sau này như cá chép hóa long. Cũng chính vì cá chép dùng làm phương tiện về trời của thần bếp lửa vào tháng cuối tháng chạp mà chúng ta gọi nó là cá “chép”. “Chép” biến âm với “chạp”. Cá chép là cá tháng chạp. Chép và chạp đều có nghĩa là “hai”. Thật vậy với h câm, ta có chạp = cạp, cặp. Tháng chạp là tháng cặp, tháng hai. Theo biến âm ch=k như chênh=kênh, ta có chép=kép, có nghĩa hai: “rộng làm kép, hẹp làm đơn”. Người Việt chúng ta gọi là tháng 11 ta là tháng một và tháng 12 ta là tháng chạp, tháng cặp, tháng hai và tháng một ta gọi là tháng giêng:

Tháng giêng ăn tết ở nhà,

Tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà.

.. .. .. .. .. .. ..

Tháng một, tháng chạp nên công hoàn toàn.

Rõ ràng cá chép là cá kép, cá cặp, cá chạp. Cá chép là cá tháng chạp. Do đó cá chép được dùng làm phương tiện về trời của ông Táo vào ngày hai mươi ba tháng chạp ta. Ngoài ra cá chép có râu mang nam tính, dương, lửa, môi mép, vẩy vi viền đỏ là con cá lửa. Cá chép còn gọi là cá gáy. Nếu hiểu gáy là tiếng hót thì gáy là biểu tượng cho đực, hùng tính. Con chim, con gà chỉ con đực mới gáy. Gáy biến âm với gay là đỏ. Ðỏ gay. Ðỏ là tỏ là mặt trời, lửa. Hán ngữ cá chép là lí ngư. Lí biến âm với li là lửa. Lí ngư là cá lửa. Như thế cá chép liên hệ tới lửa điều này giải thích tại sao ông Táo Thần Bếp lửa cỡi cá chép về trời.

Ông táo không mặc quần

Cũng theo truyền thuyết ông Táo chỉ đội mũ, đi hia không mặc quần như thấy qua câu thơ của một nhà văn:

Ðội mũ đi hia, chẳng mặc quần.

Ðồ mã cúng ông Táo không bao giờ có quần. Câu ca dao dưới đây cho thấy ông Táo ở trong bếp lửa ấm cúng nên không cần nhiều đồ mặc, không cần quần và ở trong bếp nên cũng không phải lo về vấn đề ăn uống; ông Táo không phải lo ăn, lo mặc nên chẳng phải lo gì nhiều so với ông Cả:

Ông Cả ngồi trên sập vàng,

Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo.

Ông Bếp ngồi trong đống tro,

ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm.

Tại sao thần táo lại hai ông một bà?

Bây giờ ta hãy tìm xem tại sao bộ ba vị thần này lại hai ông một bà? Câu chuyện Thần Bếp hai ông một bà này đã đi sâu vào đời sống dân dã Việt Nam. ở thôn quê Việt Nam cái bếp thường được làm bằng cách nặn ba cục đất sét gọi là ba ông đầu rau. Cục ở giữa có cái lỗ ấn lõm vào chỗ ngang người. Cái lỗ đó thường cho là cái lỗ rốn. Cục có rốn để ở giữa là bà Táo. Hai cục hai bên không có rốn là hai ông táo (x. phụ bản Nhà Bếp). Có một điều rất lấy làm lạ là tại sao chỉ có bà Táo mới có rốn còn hai ông Táo đàn ông lại không có rốn? Chắc chắn cái rốn của bà Táo phải có một ý nghĩa gì bí ẩn đây? Chúng ta sẽ thấy rõ ở dưới. Cái thắc mắc nữa là tại sao lại gọi bộ ba ông bà Táo là ba ông đầu rau? Xin thưa 'rau' là biến âm với 'nhau' như ta thấy qua từ lá nhau hay lá rau (placenta) của bà đẻ. Ba cái đầu rau là ba cái đầu nhau. Với h câm, ta có nhau là nau, là nấu. Ðầu rau là đầu nấu. Ba cái đầu rau là ba cái đầu để nấu.

Tại sao thần Táo lại hai ông một bà? Mọi người đều tin như vậy, mà lại tin vào một chuyện tréo cẳng ngỗng là “hai ông một bà”. Xã hội của chúng ta trước đây là một xã hội đa thê chứ không chấp nhận đa phu:

Ðàn ông năm thê, bảy thiếp,

Gái chính chuyên chỉ có một chồng.

Luân lý xã hội thường thường khuyên chỉ nên có một vợ một chồng, không nên bắt chước vua Bếp hai ông một bà:

Thế gian một vợ một chồng,

Không như vua Bếp hai ông một bà.

hay:

Nhận, phải hợp với cương thường đạo lý thì câu chuyện này mới phổ biến rộng rãi và tồn tại từ đời này qua đời nọ. Bắt buộc phải dựa vào một cái gì mà mọi người nhất là các nhà khoa bảng, quan quyền đồng ý như vậy. Ði tìm 'cái gì đó', tôi đã tìm cách bắt mạch để chẩn đoán ba vị thần bếp hai ông một bà này. Úi da! Chút nữa phỏng cả tay. Bộ ba thần bếp lửa có mạch Hỏa! Mạch nóng bỏng cả tay. Hỏa là lửa. Lửa là Li. Li vi hỏa. Eureka! Ðây chính là quẻ Li trong Dịch kinh. Quẻ Li gồm hai hào dương hình hai cái que, hai cái nọc kẹp ở giữa một hào âm tức cái que đứt đoạn. Nếu viết theo Việt Dịch Nòng Nọc thì hai hào dương là hai cái que và hào âm ở giữa là cái vòng tròn: (IOI), Li. Hai hào dương, hai cái nọc hai bên là hai ông Táo đực rựa. Còn hào âm ở giữa nếu viết theo Chu Dịch là cái que đứt đoạn là cái khe, cái kẽ, còn viết theo Việt Dịch Nòng Nọc là vòng tròn, là cái lỗ biểu tượng cho phái nữ tức bà Táo. Cái rốn ở cái đầu rau Táo bà chính là cái hào âm vòng tròn Nòng. Ðiều này giải thích tại sao bà Táo đầu rau có cái lỗ rốn. Ðây là cái rốn mang âm tính và dĩ nhiên hai ông Táo đầu rau không có cái rốn loại này. Như thế chuyện thần bếp hai ông một bà nguồn từ quẻ Li là lửa trong Kinh Dịch. Thần Li, Thần Lửa là Thần Bếp.

êO ç ç ç

Quẻ Li viết theo Dịch Nòng nọc.

Hai hào dương hai bên là hai ông

Táo và hào âm ở giữa là bà Táo

Quẻ Li viết theo Chu Dịch

Tóm lại truyện bộ ba hai ông một bà Táo, Thần Bếp Lửa dựa trên quẻ Li (IOI), tức quẻ Lửa của Dịch kinh có mặt trong truyền thuyết Việt. Một lần nữa qua cái lỗ rốn tròn là hào âm nòng cho thấy Dịch Nòng Nọc âm dương đề huề là loại Dịch nòng cốt của đại tộc Việt coi âm dương đề huề hay hơn nữa coi mẹ hơn cha.

Tài Liệu Tham Khảo:

-Phan Kế Bính, Phong Tục Việt Nam

-Nhất Thanh, Vũ Văn Khiếu, Ðất Lề Quê Thói.

-Toan ánh, Phong Tục Việt Nam.

-Nguyễn Xuân Quang, KHAI QUẬT KHO TÀNG CỔ SỬ HỪNG VIỆT, YHTT xuất bản, 1999