Mùi Tết quê tôi

TTO - Hai chín, ba mươi Tết nhà nhà quây quần bên chiếc nong tre, chẻ lạt, gói bánh tét. Mùi lá chuối vừa hơ lửa, mùi nếp mới, đậu xanh, thịt ướp tiêu thơm lừng, làm cho bao đứa trẻ lòng nao nao mong Tết đến thật nhanh. Chiều ba mươi, khắp làng quê phảng phất trong không khí thứ mùi quen thuộc, thiêng liêng: mùi nhang trầm...

.......................................

Quê tôi là một vùng thuần nông, người nông dân quen tần tảo sớm hôm cực nhọc để làm ra hạt lúa, củ khoai, manh áo. Nhưng giờ đây, cùng với nhịp phát triển chung của xã hội, công việc đồng áng đã được cơ giới hoá, người dân phần nào đỡ vất vả, có thời gian "ra Bắc vào Nam" buôn bán, lao động, chắt chiu, dành dụm xây dựng kinh tế gia đình. Với những người nông dân chân chất, họ luôn chuẩn bị cho một cái Tết thật chu đáo, thiêng liêng, ấm cúng và vui vẻ.

Những ngày cuối tháng chạp, cái lạnh của mưa phùn, gió bấc vẫn còn nặng nợ với mùa đông, mặc cho trên những cành mai đã vàng một màu tinh khôi báo hiệu mùa xuân về. Giáp Tết, đường làng, ngõ xóm được quét dọn, chỉnh trang sạch sẽ, thoáng đãng. Chợ và các cửa hàng bán đồ Tết đông vui, ồn ào, náo nhiệt kẻ mua, người bán. Nhiều nhất là các mặt hàng bánh mứt, kẹo, đậu xanh, gạo nếp, vàng mã, hương thơm ...

Trong những ngày còn lại của năm cũ, người thôn quê thường mổ lợn cúng tất niên và tổ tiên trong những ngày tết. Nơi làng quê vốn yên bình thỉnh thoảng lại vang lên tiếng lợn bị chọc tiết ở đâu đó, làm xao lòng bao người con xa quê mới có dịp trở về. Đầu làng có lò rang nếp nổ được dựng lên vội, phục vụ những gia đình làm bánh nổ. Nếp rang xong, về ngồi sàng, lượm sạch vỏ trấu, cho vào bao ni-lon cột kỹ. Đêm đến sên đường, trộn vào nếp nổ, đổ vào khuôn đóng bánh. Tiếng chày đóng bánh nổ nghe đùng đùng, vang đều khắp xóm thật rộn rã.

Ngày hai chín, ba mươi Tết nhà nhà quây quần bên chiếc nong tre, chẻ lạt, gói bánh tét. Mùi lá chuối vừa hơ lửa, mùi nếp mới, đậu xanh, thịt ướp tiêu thơm lừng, làm cho bao đứa trẻ lòng nao nao mong Tết đến thật nhanh. Chiều ba mươi, khắp làng quê phảng phất trong không khí thứ mùi quen thuộc, thiêng liêng đó là mùi nhang trầm. Chiều cuối cùng của năm cũ, mọi nhà đều cúng rước ông bà, tổ tiên về chung vui năm mới cùng con cháu. Đêm ba mươi, trong thời khắc chờ đón giao thừa, mọi người vui vẻ, đầm ấm bên nhau kể về chuyện làm ăn, học hành... của một năm đã qua.

Ngày Tết, họ hàng gặp nhau thật đầm ấm, người quê làm lụng cả một năm vất vả, dành cho cái tết với các món ngon, quần áo đẹp, cho dù ngày thường bây giờ không thiếu. Thanh niên nông thôn bây giờ cũng đổi thay theo cuộc sống. Nhiều người rời làng ra thành thị học hành, công tác, kiếm sống đã học được lối sống thời thượng của một số thanh niên thành phố. Xe máy bây giờ đã phá vỡ bầu không khí yên tĩnh của làng quê. Mấy ngày Tết, đường quê xe máy chạy ầm ầm không kém ở đô thị.

Bữa cơm tân niên quê tôi thật sự sum họp, đầm ấm. Các bậc ông bà, cha mẹ, cô chú... lì xì năm mới với những đồng tiền thật mới rồi nhắc nhở, chỉ bảo con cháu ra sức học tập, rèn đức, luyện tài và nâng cao tay nghề, làm những việc có ích cho bản thân, cộng đồng và xã hội. Con cháu chúc ông bà, cha mẹ, chú bác sức khoẻ dồi dào, sống lâu trăm tuổi. Ngày Tết, mọi người đến nhà nhau chúc tụng, cầu an khang, hạnh phúc như một câu hát tình xuân trong họ hàng, làng xóm và mỗi mái ấm gia đình.

Một cái Tết lại qua đi, mọi người, mọi nhà lại bước vào năm mới với bao toan tính, người nhà nông quê tôi một phần phải xa quê, tần tảo rong ruổi trên khắp các nẻo đường tìm kế mưu sinh. Người ở nhà lại cần mẫn trên từng thửa ruộng, mùa này qua mùa khác "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" để đổi lấy những mùa vàng như một điệp khúc tình quê....

NGUYỄN TẤN PHÁT

Hát sắc bùa - một lối chúc Tết độc đáo

Trong những ngày Tết cổ truyền ở nước ta, tục hát sắc bùa là một hình thức dân ca nghi lễ vào ngày đầu năm khá phổ biến ở các tỉnh miền Trung và Nam bộ.

Hát sắc bùa là cách chúc mừng ngày Tết thường được tổ chức thành từng đội từ 5 - 7 người, có khi đến vài chục người, gọi là phường bùa. Thời gian hát từ đêm 30 tháng chạp đến rằm tháng giêng, cá biệt như ở Quảng Ngãi có thể kéo dài cả mùa xuân.

Về tên gọi của loại hình cũng có những biến thể khác nhau, như ở Nam Trung bộ và Nam bộ gọi là sắc bùa, ở Quảng Nam gọi là ca xuân sắc bùa, ở Hòa Bình gọi séc bùa.

Hiện nay, hình thức hát sắc bùa còn giữ lại tương đối đầy đủ hơn cả là hát sắc bùa Thừa Thiên Huế. Đội hát sắc bùa ở đây gồm 14-16 người, gồm một ông cái sắc, một ông tróc quỷ, một em bé đóng quỷ, một ông đánh trống và ông lối lo đọc chú. Nét đặc sắc của hát sắc bùa Thừa Thiên Huế là rất đậm chất sân khấu nên rất hấp dẫn. Các nhân vật đều được phân vai và biểu diễn theo vai được phân, còn đội đọc chú thì giữ vai trò như đồng ca.

Ở một số địa phương khác như Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bến Tre… hát sắc bùa về hình thức nghi lễ cơ bản cũng giống như ở Thừa Thiên Huế, có điều bỏ bớt phần bắt quỷ, chỉ có khác chúc mừng năm mới. Bài hát chúc mừng mỗi nơi một khác, và ngay từng nơi, từng đối tượng nghề nghiệp, từng gia cảnh, bài hát chúc mừng phải thay đổi làm sao cho phù hợp. Chẳng hạn ở Quảng Bình, lúc vào nhà chỉ có ông bà già, thì hát:

Ngó vô trong nhà
Cao đèn đỏ lửa
Xin ông ra khai môn
Để cho bầy tui vào
Trông lên giường cao
Thấy con rồng ấp
Ngó xuống dưới đất
Thấy con rồng chầu
Ông mệ (bà) sống lâu
Thượng đế thơ sắc…

Ở Nghệ An, người ta lập thành phường gọi là phường sắc bùa để hoạt động vào dịp Tết. Mỗi phường có từ 4-10 người, có khi toàn trẻ em từ 10-15 tuổi, trừ người trùm phường, trùm phường là người thông thạo các bài hát chúc và có thể ứng khẩu sáng tác tùy theo hoàn cảnh từng gia đình hay từng đối tượng, nghề nghiệp. Buổi hát kết thúc bằng một bữa rượu, bánh chưng và tiền phong bao, nhiều ít tùy gia chủ.

Người Mường ở miền núi Nghệ An, Hà Tĩnh cũng chỉ hát bài chúc tụng và cứ hát xong một câu lại đánh một hồi chuông. Ở xứ Mường Hòa Bình, sau bài hát mở cửa, phường bùa vừa đi vừa đánh cồng, sau bài cồng là bài hát chúc tụng. Gia chủ cám ơn và tặng quà. Phường hát tiếp tục đi nơi khác. Còn ở Quảng Nam, hát sắc bùa còn gọi là ca xuân sắc bùa. Sau khi tiến hành các nghi lễ chúc tụng còn có điệu hát múa dân gian.

Ở Bến Tre (Nam bộ), đội hát từ 4-6 người, gồm một ông bầu, một người chơi đàn cò, một người đánh trống cơm, hai người chơi sanh cái và sanh tiền. Tuy nhiên, số người trong đội hát không nhất thiết về số lượng. Ông bầu là người chuyên lo sáng tác cho đội. Khi đội hát đến cổng ngõ nhà gia chủ, dưới sự chỉ huy của ông bầu, các nghệ nhân trong đội hát nổi nhạc, vỗ trống cơm, gõ sanh tiền và hát bài “Khai môn”:

Mở cửa, mở cửa
Khoen trên cài xỏ
Ngõ dưới còn gài
Chả phụ đứng ngoài
Thần tài sát quỷ
Thầy quỷ lại xao
Ông ngồi giường cao
Mở chặng đường nào
Năm mới giàu sang
Bình an vô sự…

Gia chủ ra mở cửa. Khi vào trong nhà, ông bầu vái lạy. Các thành viên trong đội xếp thành hai hàng rồi hát chúc xuân, sau đó cả đội hát bài chúc ông bà. Khi hát xong, ông bầu làm nghi thức dán bùa.

Còn lối hát súc sắc súc sẻ ở miền Bắc nước ta, có người cho rằng đó cũng là hình thức hát sắc bùa. Các em vừa súc sắc súc sẻ trong lúc gia đình chủ nhà chăm chú nghe, và sau lời hát, gia đình nào cũng tặng các em một ít tiền, tiền đó các em bỏ ống.

Trên đây là những hình thức chúc Tết rất độc đáo của nhân dân ta. Đó là hình thức dân ca nghi lễ, tàng ẩn khát vọng cầu mong sự sanh sôi nẩy nở, xua đuổi tà ma, đem lại bình yên cho mọi gia đình vào dịp đầu năm…

Theo NGUYỄN NHÂN THỐNG - Báo Đồng Khởi

Tết cổ truyền của người Dao Tuyển

Sau tết Nguyên đán cổ truyền, mùng 2 tháng 2 âm lịch hàng năm, người Dao định kỳ tổ chức nghi lễ cúng thần thổ địa để hóa giải những tất cả những điềm xấu của năm cũ, ngăn chặn vận đen đến với làng và cầu mong một năm mới may mắn, thịnh vượng.

Tết này được người Dao quan tâm đặc biệt vì không những chứa đựng nhiều giá trị tâm linh mà còn có tầm quan trọng trong sự cố kết cộng đồng. Bên cạnh phần lễ, tết tháng 2 còn là dịp sinh hoạt giao lưu văn nghệ dân gian giữa các thôn bản, mang đậm bản sắc tộc người.

Tết tháng hai cổ truyền của người Dao Tuyển - huyện Bảo Thắng

Người Dao gọi tết tháng hai là “nhây nhật tù nhai, ghi mang ai xoong” có nghĩa là tết mùng 2, hết năm làm cúng cho làng, mời thần về ăn uống, trị ma cho làng, cầu mùa màng sản xuất bội thu. Tết tháng 2 là tết chung cộng đồng thôn bản nên tất cả mọi người nhiệt tình tham gia.

Trước tiên là phần nghi lễ được một hội đồng gồm ba người do nhân dân tín nhiệm cử ra chịu trách nhiệm chính tiến hành các bước của nghi lễ truyền thống. Người thứ nhất gọi là “xà châu” tức là ông chủ, đại diện cho tất cả các hộ gia đình trong thôn đứng ra tổ chức, chịu trách nhiệm về các lễ vật dâng cúng, cũng như việc đóng góp thu chi của các hộ sao cho công bằng, công khai.

Người thứ hai là “yàng cô” tức là già làng, người am hiểu phong tục tập quán, được cộng đồng trọng vọng, có tiếng nói quan trọng trong đời sống người dân. Còn lại là thầy cúng “xà thay”, người cử hành những nghi lễ, có phép thuật, quyền binh đón vận tốt, giải điềm xấu cho làng.

Trước ngày tổ chức lễ cúng làng, các hộ trong thôn đã họp bầu ra hội đồng này bằng cách bỏ phiếu tín nhiệm bằng những hạt ngô, ai có số hạt ngô cao hơn thì được làm. Tiêu chuẩn để lựa chọn là những người có kinh nghiệm trong sản xuất, làm ăn, gia đình hòa thuận, am hiểu phong tục, lý lẽ dân tộc.

Lễ cúng bản được tổ chức tại miếu làng (gọi là thần thổ địa), là nơi linh thiêng nhất trong thôn bản - vị thần bản mệnh của làng. Miếu làng nằm ở nơi cao nhất trong thôn bản để bao quát tất cả các hộ gia đình, thâu tóm mọi sự việc diễn ra.

Buổi sáng mùng 2, mỗi hộ gia đình cử một người nam giới đại diện đi dự, khi đi mang theo một con gà, một chai rượu, một bó hương và ít giấy tiền. Mọi người tụ họp tại miếu làng, ông “xà châu” phân công nhiệm vụ một số người nấu nướng, chuẩn bị lễ vật, những người còn lại làm các vũ khí trừ tà như: cổng chắn, dây xích, lựu đạn...

Mâm lễ dâng cúng gồm có: thịt gà luộc, thịt lợn, bát gạo, 3 chén rượu, vàng hương, số lượng gà ít nhất cũng phải đủ 6 - 7 con. Thầy cúng thắp hương và thỉnh cầu đến tên các vị thần sau:

- Thần “thu đi” - thần thổ địa, là những người già, trẻ ở trong thôn đã mất.

- Thần “Dằn lòng man” - vị thần cai quản việc sản xuất, cày bừa, cầu cúng để cày cấy được mùa, cây lúa tốt tươi, không sâu bệnh. Đây chính là vị thần liên quan đến hồn vía của cây lúa, gắn liền với sự tích con chuột đi tìm hạt giống đầu tiên về cho con người vốn phổ biến trong cộng đồng người Dao. Vì thế nội dung của bài cúng có nhắc lại sự tích này.

- Thần “Nhi gùng, lùy gùng” là Ngọc hoàng thượng đế, cai quản tất cả các vị thần, mọi việc trong nhân gian, ốm đau sinh tử.

- Thần “dang hu” phục vụ cho tất cả mọi nhà, coi sóc công việc của hộ gia đình... mời tất cả các thần về dự lễ, ăn thịt và mong các thần phù hộ cho dân làng yên ấm, làm ăn phát đạt, không ốm đau, hỏa hoạn, người làng đi đâu đều được phù hộ hóa nguy thành an...

Sau lễ cúng, tiến hành nghi thức đuổi ma, trị ma, ngăn điềm xấu đến với mọi gia đình trong thôn. Thầy cúng dẫn đầu đoàn đi đuổi ma, gồm hai thanh niên đeo mặt nạ, hai người khiêng “bờ loong”. Những người này yêu cầu đã qua lễ cấp sắc, đã được chứng nhận là người trưởng thành và cũng có quyền binh phép thuật mới có thể đuổi được ma. Nếu ai mới lấy vợ một hai năm cũng không được phép tham gia, có như vậy mới đảm bảo sự trong sạch.

Thầy cúng cầm dao, hai người kia cầm súng, lựu đạn, cầm dây xích. Nghi lễ rước thần đến các hộ gia đình bằng hình thức làm “bờ loong” là một người cắt bằng giấy bản, tượng trưng cho tất cả các thần vừa nhắc đến khi cúng, đưa các thần đến phù hộ cho từng gia đình trong thôn.

Đoàn người đi từ đầu làng đến cuối làng, đến nhà nào thì nhà đó phải đốt giấy tiền đem tro bỏ vào bên cạnh “bờ loong”, có như vậy thì điềm xấu mới được gỡ bỏ và thần quanh năm phù hộ cho gia đình. Hai người đi khiêng thần chỉ đứng ở ngoài không vào nhà. Trong quan niệm của người Dao đó là hình thức tẩy uế, quét đi mọi bụi trần của năm cũ, đón năm mới mát mẻ, trong sạch và an lành đến với gia đình. Với họ, nếu như đầu năm làm được nghi thức quét nhà này thì quanh năm no ấm, bình an.

Sau khi hai thanh niên đem xích và súng vào đuổi ma, đuổi mọi điềm xấu ra khỏi nhà thì thầy cúng viết vẽ hình lên giấy và viết chữ chắn ở cửa của gia đình. Dán tờ giấy chắn cửa “chăn pieo” xong thì chuyển đến gia đình khác, cứ lần lượt như thế đến khi hết tất cả các hộ gia đình trong thôn.

Địa điểm đầu làng và cuối làng mọi người phải dựng cổng chắc được bện bằng cây gianh, trên đó treo một cây súng, hai con dao nhọn, giấy chắn cửa vào làng. Tất cả những vật kỵ ma này tạo thành lớp lá chắn ngăn tất cả các loại ma, những dịch bệnh, những hỏa hoạn, những điềm xấu có thể đến, đón những điều may mắn thuận lợi vào làng.

Nghi lễ kết thúc. Mọi người cùng nhau ăn uống, kiểm điểm những công việc đã diễn ra trong năm cũ, nêu tên cá nhân, hộ gia đình nào vi phạm hương ước của làng bị khiển trách và nộp phạt theo mức quy định chung. Tết mùng 2 tháng 2 cúng trong phạm vi cộng đồng làng, hộ gia đình không tổ chức, tương đồng với lễ hội quét làng của người Nùng Dín nhưng chỉ khác nhau về hình thức các nghi lễ.

Phần hội diễn ra ngay sau khi phần lễ kết thúc, thanh niên nam nữ đã có hẹn ước từ năm trước xin phép thần thổ địa đi sang làng bên để hát đối chơi xuân, hát giao duyên, đó là hội hát qua làng nổi tiếng của người Dao.

Ngày tết tháng 2 cũng là ngày họp phiên chợ Cốc Lếu xưa, tại đây tưng bừng các hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian: ném còn, đánh đu, đi cà kheo... Tất cả người Dao, người Giáy ở quanh vùng nô nức kéo nhau về dự. Trai gái tìm hiểu, gửi gắm tình yêu bằng lời ca, để khi chợ tan tình cảm mặn nồng nên duyên quả ngọt.

Tết mùng 2 tháng 2 không chỉ mang đậm giá trị văn hóa tín ngưỡng mà còn là nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của người Dao. Tết tháng 2 phản ánh tín ngưỡng nông nghiệp cổ truyền của người Dao thờ thần bản mệnh chủ hồn lúa, cầu sản xuất chăn nuôi phát triển, người vật hưng thịnh. Mặt khác, tết tháng 2 cũng là dịp nuôi dưỡng những giá trị tinh thần, đặc biệt là việc gìn giữ kho tàng dân ca phong phú của người Dao, khẳng định tính bền vững của văn hóa tộc người trong quá trình phát triển.

Theo Sở VH-TT Lào Cai

Tết xưa

TTO - Tôi mất mẹ năm bốn tuổi. Cha tôi đi làm ăn xa, rồi có gia đình mới. Tôi sống với ông bà ngoại ở Huế. Ba người lặng lẽ trong ngôi nhà cổ có nhiều cột gỗ đen bóng, có mái ngói âm dương tí tách tiếng mưa mùa đông, có những viên gạch lót nền màu đỏ mát rượi trưa hè. Ngôi nhà ở giữa chùa Diệu Đế và nhà thờ Trung Bộ nên tôi thức dậy với hồi chuông rộn rã nhà thờ sáng sớm, đi ngủ cùng tiếng tụng kinh khuya của các thầy.

Tôi nhớ Tết tuổi thơ. Bà ngoại lo bánh mứt từ rằm tháng Chạp. Vì gia đình các dì cậu tôi năm nào cũng về. Tôi mong Tết, vì nhà sẽ đông người, rộn rã tiếng cười và có lắm món ăn ngon. Bà khéo tay lắm. Đầu tiên là các món bánh. Bánh bài bột nếp có nhân mứt bí xào mè ngọt ngậy, bánh đậu xanh viên bọc giấy gương xanh đỏ, hai đầu cắt tua rua. Công phu nhất là bánh thuẩn. Bà đổ bánh với những chiếc khuôn đồng nặng trịch vùi trong nồi cát lớn. Ông ngoại lo việc đánh trứng với đường trong cái âu đất to bằng hai chục chiếc đũa tre đan chéo vào nhau. Dập được vài trăm cái, ông nhắc tôi thử xem trứng "dậy"chưa bằng cách chấm cây tăm vào cái chất đặc sánh ấy, nhỏ vào chén nước con, nếu nổi trên mặt nước là được. Tôi thích thú với trò chơi ấy, trong lòng bao giờ cũng mong những chấm trứng lặn xuống đáy.

Bà tôi trộn bột, cứ một "nhã" được mười hai cái bánh thơm lừng. Bánh vàng ươm, mặt trên nở đều bốn cánh như nụ hoa là bánh đẹp, dành cúng trời đất tổ tiên; những chiếc um úp hình chiếc mũ bê-rê, bà sắp riêng để ăn, và tôi luôn là người đầu tiên thưởng thức. Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ như in vị ngọt ngào của những chiếc bánh làm bằng bột bình tinh, đưa vào miệng là tan ngay trên đầu lưỡi.

Đến các món mứt, đủ cả. Mứt gừng vàng cay nồng, mứt dừa trắng nõn béo ngậy, mứt bí ngọt lịm dòn tan, mứt hạt sen dìu dịu hương thơm. Bà gọt, xắt, luộc, rim mỗi ngày một món. Tôi chực vét những miếng mứt cháy ở đáy son, thơm ngon vô kể.

Bánh mứt làm xong vừa đến lễ Ông Táo. Lại tiếp các món mặn. Bà thuộc lòng sở thích các cậu, dì. Thẩu ngâm mắm của cậu Hai, thịt mông hai phần nạc, một phần mỡ. Thẩu ngâm giấm cho cậu Tư là tai heo trắng dòn. Còn dì Ba không thể thiếu nồi giò heo hon. Tôi sau này sống nhiều nơi, từng ăn món thịt hon ở nhiều vùng miền, trong những nhà hàng lớn nhưng thú thật không sao tìm lại được hương vị độc đáo của món ăn xứ Huế dưới bàn tay chế biến của bà.

Giò heo chọn vừa phải, nướng trên lửa cho da vàng rộm. Giò cắt thành từng khoanh, ướp tẩm kỹ lưỡng. Nào bột ngũ vị hương, lá cà-ri, bột nghệ, hành tỏi sả băm nhỏ, muối đường tiêu cộng với nước mắm ngon. Chờ thịt ngấm, bà chọn nấm mèo, măng khô. Tôi luộc đậu phộng, rang mè. Khi bà xào thịt, hương thơm sực nức mũi. Thịt và đồ mộc được ninh nhỏ lửa đến nhừ mà không nát. Khi nước còn xâm xấp trở thành màu cánh gián, bà rải mè, cho vào ít rượu trắng để dậy mùi thơm. Tết ở Huế lạnh, ngoài trời mưa phùn, trong nhà có bát thịt hon ăn với xôi trắng nóng thì thật "khoái khẩu".

Khi các dì , cậu về đông đủ, cả nhà quây quần ngồi canh nồi bánh chưng bánh tét, bao nhiêu chuyện vui buồn trong một năm đem kể với nhau thật rôm rả . Tôi cố thức để hóng chuyện nhưng bao giờ cũng thiếp ngủ trong lòng bà với giấc mơ tràn trề yêu thương.

Thời gian trôi qua, ông bà ngoại tôi đếu mất trước khi tôi lấy chồng. Ngôi nhà giờ còn cậu Tư lo nhang khói . Vợ chồng tôi phiêu bạt vào Nam , đã lâu lắm rồi không về quê cũ. Mỗi năm Tết đến, cũng như nhiều bà nội trợ thành phố, tôi đến siêu thị và ra về với những chiếc túi nặng trĩu thức ăn sẵn. Cỗ bàn đầy mâm nhưng tôi vẫn thấy thiếu một thứ gì đó. Hình như đó là hương trầu thơm nồng của bà với những Tết xưa đầy màu sắc và hương vị làm trong tôi luôn dâng lên niềm hoài cảm...

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

Những nét chính về Tết

Mùa Tết

Từ 23 tháng chạp trở đi là bắt đầu vào thời kỳ rộn ràng của mùa Tết, tính từ mốc sự kiện "đưa ông Táo về trời" (một nghi thức tiễn đưa thần bếp lên chầu Ngọc Hoàng báo cáo lại tình hình trong năm của chủ gia) vào ngày này. Thiên hạ đua nhau nô nức mua sắm các vật dụng, đặc biệt là quần áo và thức ăn (việc buôn bán mùa Tết thường sẽ chấm dứt từ đúng ngọ ngày 29 hoặc 30 tháng chạp, từ khi đó lần đầu tiên trong năm, chợ búa trở nên vắng vẻ và các sạp trống không). Tại những bến xe tấp nập những người tha phương mua vé xe để trở về quê đoàn tụ cùng gia đình. Không khí lễ mỗi lúc một đầy ngập hơn, người người ai nấy đều nô nức rộn ràng chuẩn bị đón xuân.

Chợ Tết

Đấy là những chợ có phiên họp chợ vào trước tết từ 25 tháng chạp cho đến 30 tháng chạp, bán nhiều mặt hàng, nhưng nhiều nhất là các mặt hàng phục vụ cho tết nguyên đán, như lá dong để gói bánh chưng, gạo nếp để gói bánh chưng hoặc nấu xôi, gà trống, các loại trái cây dùng thờ cúng (ngũ quả) để cúng tổ tiên.... Vì tất cả những người buôn bán hầu như sẽ nghỉ bán hàng trong những ngày Tết, những ngày đầu năm mới không họp chợ, nên phải mua để dùng cho đến khi họp chợ trở lại đưa đến mức cầu rất cao. Người Việt có câu "mồng bốn chợ ma, mồng ba chợ người" nên chợ được họp phiên đầu năm là mồng ba tết (ngày 3 tháng 01 âm lịch) Hơn nữa, chợ Tết cũng để thỏa mãn một số nhu cầu mua sắm để thưởng ngoạn, để lễ bái như hoa kiểng, những loại trái cây, đặc biệt là dưa hấu và những loại trái có tên đem lại may mắn như mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài v.v. Những loại chợ Tết đặc biệt cũng sẽ chấm dứt vào trước ngọ giao thừa. Vào những ngày này, các chợ sẽ bán suốt cả đêm, và đi chợ Tết đêm là một trong những cái thú đặc biệt.

Hương vị ngày Tết: bốn thức chủ lực "quốc hồn quốc túy"

Khoảng rằm tháng chạp, củ kiệu tươi được bày bán đầy các chợ. Các bà nội trợ mua về cắt lấy phần củ trắng nõn nà, phơi qua vài nắng cho khô quắt lại rồi cho vào những ve keo, kế đó cho vào các ve củ kiệu này giấm sôi nấu với đường, xong đậy kín lại. Vào vài buổi chợ giáp tết họ mua thịt heo mỡ, trứng vịt để chuẫn bị món dự trữ chủ lực: thịt kho nước dừa; thêm đôi ba xấp bánh tráng, giá để làm dưa giá nữa là xong. Không ai là người Việt mà không cảm khái thứ hương vị dân tộc và khó quên ấy: bánh tráng nhúng nước cho mềm, trải ra trên một tay, cho lên đấy một miếng thịt mỡ, một miếng hột vịt, vài ba củ kiệu, ít dưa giá rồi cuốn lại, chấm vào tô nước thịt kho dằm miếng ớt. Ngày tết hễ đói bụng, hay muốn nhậu, ngoài các thứ đều không thể thiếu được "thịt kho, dưa giá, củ kiệu, bánh tráng"[cần dẫn nguồn]. Phải nhìn thấy chúng, nếm chúng, nuốt chúng xuống dạ dày mới gọi là thưởng thức được hương xuân trọn vẹn[cần dẫn nguồn].

Riêng người Bắc, thay vì củ kiệu, một số người dùng củ hành ta với cách làm cũng tương tự. Ve dưa hành có màu hồng như ngọc, trông rất đẹp và "may mắn".

Màu của ngày Tết

Hoa đào, nở vào ngày Tết, báo hiệu mùa xuânmiền bắc Việt Nam

Chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, màu chủ lực trong ngày Tết vẫn là màu đỏ theo quan niệm màu đỏ là màu phát tài và may mắn. Ngày Tết của Việt Nam ngập tràn màu đỏ: câu đối đỏ, phong bao lì xì đỏ, ruột quả dưa hấu đỏ, hạt dưa nhuộm màu đỏ, quyển lịch đỏ. Người Việt Nam cũng thích chưng những loại hoa ánh đỏ như hồng, mãn đình hồng, hoa đào v.v. Trước đây khi pháo còn được cho phép đốt, đường xá ngập tràn trong màu đỏ của xác pháo nổ rân không ngớt kể từ giao thừa đến rạng sáng Tết, rồi nổ lẻ tẻ mãi cho đến khi nào hết "mồng" mới thôi.

Trang phục có tông màu đỏ cũng được ưa chuộng để mặc Tết.

Khái niệm thời gian

Mùa Tết, không ai bảo ai, mọi người đều cùng nhau dẹp bỏ dương lịch và quay trở sang âm lịch rất tự nhiên, với những khái niệm thời gian trước tết gọi là “hăm” (ngày 20 tháng chạp âm lịch +): hăm mốt tết, hăm chín tết (nếu rơi vào tháng chạp thiếu sẽ không có ngày ba mươi tết), sau tết gọi là “mồng”: mồng hai tết, mồng tám tết... Âm lịch hồi sinh thật kỳ diệu như thể luôn nhắc nhủ mỗi người Việt Nam về tính dân tộc, cổ truyền của ngày lễ trọng đại, thiêng liêng nhất này.

Nguồn Wikipedia

Thời gian cử hành Tết

Ngày đầu năm này cũng gọi là ngày Mồng Một Tết, ngày bắt đầu của một dịp lễ cổ truyền long trọng nhất trong năm của người Việt. Có những thời điểm trước đây chuỗi ngày Tết được kéo dài hơn hiện nay, người ta "ăn Tết" (tận hưởng Tết) đến Mồng Tám, Mồng Chín tháng giêng (tháng một Âm lịch); nói chung khi nào những công sở, trường học còn nghỉ thì còn Tết. Tết là dịp hội hè vui chơi sau một năm lao động vất vả, và là dịp để những người tha phương tìm về sum họp với gia đình, cùng nhau tưởng nhớ đến tổ tiên, cội nguồn. Người Việt Nam tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết họ thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng tất bật đi sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết họ kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích đã qua và là dịp để chuộc lỗi. Mọi người đi thăm viếng nhau và chúc nhau những lời đầy ý nghĩa. Trẻ em sau khi chúc Tết người lớn còn được lì xì bằng một phong bì đỏ thắm có đựng ít tiền dành cho chúng tiêu xài ngày Tết.

Tết

Tết Nguyên đán, còn gọi Tết Ta, Tết Âm Lịch, Tết Cổ truyền, năm mới hay chỉ đơn giản Tết, là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch hay Tết Tây, thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch và nói chung kéo dài khoảng 5–6 ngày, tạo điều kiện cho những thành viên gia đình sinh sống làm ăn ở nơi xa có thể về quê vui cảnh đoàn viên ít ngày. Nhưng ý nghĩa thiêng liêng nhất của Tết ở chỗ nó là dịp để người Việt nhớ về cội nguồn, ông bà tổ tiên. Ngày tết đem lại một sự khởi đầu mới, rũ bỏ những gì không hay đẹp của năm qua nên mọi người đều cố gắng vui vẻ độ lượng với nhau, bỏ qua hiềm khích cũ. Lòng người nào cũng tràn đầy hoài bão về hạnh phúc và thịnh vượng cho năm mới.

Hai chữ "Nguyên đán" () có gốc chữ Hán; "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" là buổi sáng sớm. Tết Nguyên đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết (春節, chữ Tết là từ chữ Tiết), Tân niên (新年) hoặc Nông lịch tân niên (農曆新年).

Mục lục

[ẩn]