Mua Lịch Tết không chỉ là một thói quen với người tiêu dùng Việt mỗi dịp năm hết Tết đến mà còn là dịp để họ trang trí lại nhà cửa cũng như nhìn lại thành quả của một năm làm việc đã qua. Chính vì vậy, lịch Tết còn là món quà để tặng nhau, gia tăng mối thâm giao giữa những người bạn, giữa doanh nghiệp với bạn hàng và là dịp để Văn hóa Việt lên ngôi.

Chọn một tấm lịch Tết để đặt ở một vị trí trang trọng nhất trong nhà không phải là điều dễ. Bởi lịch luôn hiện diện trong không gian của bạn, dù là nơi giao tiếp, làm việc hay nghỉ ngơi. Người dễ tính, tấm lịch thế nào cũng được. Nhưng với những người cầu kỳ thì cố tìm cho được một sản phẩm thật độc đáo, để mỗi khi tiếp đãi bạn bè còn tự hào về “gu” thưởng thức của mình. Và vì thế, ngày càng có nhiều sản phẩm độc đáo đáp ứng những yêu cầu đó.

Lịch tết 2007 Gốm Phủ Sơn Đồng, một sản phẩm thủ công mà theo như những nghệ nhân làm ra nó thì “bản thân sản phẩm Lịch tết 2007 Gốm Phủ Sơn Đồng đã mang trong nó giá trị nguồn cội Việt, cái thần của bản sắc Việt ta đã được nhập vào trong đó”. Đột phá trong thiết kế sáng tạo chứa đựng giá trị nguồn cội Việt, Lịch tết 2007 Gốm Phủ Sơn Đồng được người thợ thủ công đã khéo léo tạo hợp từ nguyên liệu gốm của làng cổ Bát Tràng và sơn thếp quê của làng tạc tượng Sơn Đồng nổi tiếng. Ánh hào quang mà bản lịch phản chiếu do được sơn thếp dưới lớp bạc dát mỏng có thể duy trì độ bền tới 25 năm. Các hình tiết được làm bằng gốm Bát Tràng phủ sơn thếp làng Sơn Đồng như: lá dáy, quả mướp, con dơi, chùm nho… đã đa dạng các chọn lựa phù hợp với văn hóa, quan niệm lưỡng nghi của người Việt Nam.

Là sản phẩm của làng nghề truyền thống và được cung cấp độc quyền, lần đầu trên thị trường lịch bloc bởi công ty VN.design, Lịch Sơn Phủ sẽ là món quà độc đáo trong dịp năm mới mà người tặng còn gửi vào trong đó mối thâm tình, thâm giao cũng như lời chúc một năm mới an khang thịng vượng tới người nhận

inlichtet.com sưu tầm trên internet

Nhớ ngoại mùng một Tết

Tết nay sẽ là cái Tết đầu tiên chúng con không còn ngoại, không còn được nhìn thấy ánh mắt mừng vui của ngoại đón các con về sum họp ngày mùng Một Tết...

Tết nhiều năm về trước - những ngày Tết đông đủ con cháu

Mùa Tết đến, các cây mai tứ quý lâu đời trong vườn nhà ngoại vàng rực sắc xuân; những cành hoa vươn ra khỏe khoắn như đón chào thời khắc giao mùa. Dượng Bảy cũng tranh thủ những ngày cận Tết, chủ vườn vừa bán vừa tặng, mua hai chậu cúc marguerite chưng hai bên cửa phòng khách.

Buổi sáng đầu năm ở nhà ngoại thật tấp nập, đông vui. Chốc chốc lại nghe tiếng xe máy dừng trước cổng; một “tiểu gia đình” đến đấy mà! ón con cháu vào nhà, nghe tiếng chào lễ phép “Con thưa mẹ... Con thưa ngoại...”, gương mặt ngoại rạng rỡ hẳn lên.

Chúng con cảm nhận được niềm hạnh phúc trong mắt ngoại, niềm hạnh phúc của một người phụ nữ mà gia đình là tất cả cuộc đời của bà. Ngoại tới lui chăm chút cho con cháu, người khoanh bánh tét, đứa miếng lạp xưởng...

Khoảng 10g sáng, tất cả đã tề tựu đông đủ. Ngoại có mười người con, năm trai năm gái. Trừ cậu thứ sáu sống xa gia đình từ lâu, chín người còn lại đều đã có mặt. Đã đến rồi phần quan trọng nhất của ngày mùng một - chọn người đại diện đứng ra chúc Tết ngoại. Các bậc nam giới trong gia đình sẽ được ưu tiên đảm nhiệm trọng trách này. Trong không khí trang nghiêm, những lời chúc như thấm sâu hơn vào tâm trí của mọi người.

Dù chỉ là những lời chúc về sức khỏe, niềm vui dành cho ngoại nhưng ai nấy cũng ngân ngấn nước mắt, buồn vui lẫn lộn. Vui vì vẫn còn có ngoại Tết năm nay, buồn vì thời gian sao như tên bay, thắm thoát một năm lại trôi qua, ngoại già thêm một tuổi, quỹ thời gian còn lại bên con cháu không còn nhiều nữa...

Sau lời mừng tuổi ngoại, đến phần bọn trẻ con thích nhất - được Ngoại lì xì. Xếp hàng từ lớn đến bé, chúng con vòng tay chúc sức khỏe ngoại và nhận từ ngoại những phong bao lì xì sắc đỏ may mắn với lời chúc ngoan và học giỏi kèm với một nụ hôn vào má.

Sau phần chúc Tết, đại gia đình tụ lại chụp với nhau một tấm hình. Mỗi năm con cháu một đông thêm nên ban đầu là hai hàng, kế đó tăng lên ba hàng, thậm chí sau này một số cậu dì phải kê thêm chiếc ghế nhỏ để đứng lên mới đủ khung hình. Ngoại mặc chiếc áo dài, ngồi nơi trang trọng nhất với con cháu xung quanh, mỉm cười thật phúc hậu.

Tiếp đến, từng nhóm nhỏ chụp riêng với ngoại. Ngoại chụp với “ngũ long công chúa” - tức các con gái của ngoại, các con trai và với từng tiểu gia đình. Hôm nay ngoại là “người mẫu chính”, ai cũng muốn có hình chụp chung với ngoại mà ngoại dù mệt cũng chẳng nỡ từ chối một ai...

Những ngày Tết đông đủ ấy quả là hạnh phúc phải không ngoại?

Tết 2008 - ngoại bệnh

Sau cơn đột quỵ vào tháng 4-2007, ngoại yếu hẳn đi. Ngoại khó ngủ, sức ăn uống kém đi nên ốm hẳn so với trước. Trí nhớ của ngoại cũng không còn minh mẫn như xưa, lúc nhớ lúc quên. Tuy vậy, nghe có ai đến thăm là ngoại mừng lắm vì biết đó là con cháu của mình.

Tết 2008, con cháu vẫn tụ họp bên ngoại dù giờ đây ngoại chẳng thể tới lui gắp cho đứa này miếng củ kiệu, cắt cho đứa kia miếng bánh chưng. Ngoại vẫn cố gượng chụp với con cháu tấm hình Tết nhưng dáng ngoại ngồi không còn vững, ánh mắt không còn thần sắc như những Tết trước. Run run sờ mặt cháu cố Tommy đang ngủ ngoan trong lòng mà mắt ngoại rưng rưng; chúng con nhìn ngoại mà lòng xót xa...

Tết 2009 - vắng ngoại

Ngày 30 Tết, con ngồi viết mà lòng nhớ ngoại vô cùng. Thế là ngoại đã mãi mãi yên nghỉ, mãi mãi xa chúng con. Mùng một Tết này con cháu của ngoại cũng vẫn hẹn nhau quây quần dưới mái nhà nơi ngoại đã từng sống thuở sinh thời.

Cầu mong hương hồn của ngoại trên trời cao sẽ cảm nhận được sự ấm áp trong làn khói hương hòa quyện với những lời cầu nguyện của chúng con. Ngoại à, những kỷ niệm về ngoại sẽ sống mãi trong lòng chúng con. Chúng con sẽ nhớ mãi giọng nói nhỏ nhẹ, nụ cười hiền hòa và tất cả những gì ngoại đã làm cho chúng con, sống vì chúng con.

Rồi đây, nhiều thế hệ cháu chắt của ngoại sẽ ra đời và chúng con sẽ kể cho chúng nghe về ngoại, về người bà đáng kính mà chúng con may mắn hơn đã được sống cùng, về những ngày đẹp nhất trong cuộc đời khi chúng con được chăm sóc trong vòng tay trìu mến của ngoại.

THẢO VY

Cặp giò gà cúng mùng ba

Xóm tôi ngày xưa thưa thớt, hoang vắng lắm. Tất cả đều là nhà lá. Từ ngoài lộ đi vào hai bên là năn, sậy và những bãi lầy đầy lục bình. Mặt đường thì khúc khuỷu, lồi lõm, có đoạn bị đứt ngang dài cả một, hai chục mét. Cái cầu sắt mất sạch ván lót, chỉ còn trơ lại khung sắt mà mỗi lần đi qua tôi đều hồi hộp thót tim vì sợ rớt xuống sông...

Hóa vàng tiễn ông bà mùng 3 Tết

Những năm ấy cực kỳ khó khăn, giai đoạn của phân phối, của sổ mua hàng. Những người dân cố cựu ở đây họ sống bằng thửa ruộng, mảnh vườn của mình, không giàu nhưng cũng không đến nổi phải đói khổ. Trong khi gia đình tôi ở thành phố chuyển về, hoàn toàn xa lạ với công việc nầy. Mấy công ruộng bà ngoại cho chẳng làm gia đình tôi đủ gạo ăn ngày hai bữa. Tôi nhớ lần đầu tiên ra ruộng làm cỏ lúa, tôi đã giật mình hoảng hốt khi thấy một công ruộng lớn đến như vậy và ngay cả việc phân biệt cây lúa với cọng cỏ đối với tôi cũng chẳng dễ dàng gì.

Tôi không thể nào nhớ hết bao nhiêu công việc không tên mà má tôi đã làm để hàng ngày mang về nhà 1, 2 lít gạo cho mấy anh em tôi no lòng. Từ việc làm bánh bán rong trên các nẻo đường quê, đến mua đi bán lại các loại hàng cấm như gạo, thịt, thuốc tây của thời ngăn sông cấm chợ. Đoạn đường từ nhà tôi ra đầu lộ dài hơn 3 km lúc ấy rất khó đi, chưa nói có thể rơi xuống cầu sắt bất cứ lúc nào nếu sơ sẩy. Vậy mà hàng đêm má tôi phải đội trên đầu hai, ba chục lít gạo đi bộ ra đầu lộ đón xe đi Cần Thơ khi gà chưa gáy bận một. Bao nhiêu mồ hôi, nước mắt của má tôi đã đổ xuống mà đói vẫn hoàn đói. Đứa em trai thứ bảy của tôi đoạt giải nhất cuộc thi giỏi văn cấp huyện, chỉ vì không có 25.000 đồng đóng cho trường nên đã không được đi thi cấp tỉnh.

Ngày thường đã vậy, Tết đến càng khốn khổ hơn, tuy không phải đến mức thiếu ăn thiếu mặc nhưng trong những ngày đầu năm ấy tôi thấy rõ sự khổ sở trong ánh mắt ba má mình. Thì cũng thịt kho, cũng bánh tét (thịt có được từ chia lúa, nếp do mấy ông cậu cho), không hiểu sao mỗi khi nuốt vào miệng tôi thấy như đang nuốt cả nước mắt của ba mẹ. Duy có một điều tôi nhớ rất rõ là gần như cả quãng thời gian ấy nhà tôi chưa bao giờ cúng mùng 3, không phải ba má tôi không biết phong tục ấy mà chỉ vì một lẽ rất đơn giản là không có tiền.

Thời gian sau đó tôi đã rời gia đình để tìm cho mình một công việc, suốt trong thời gian xa nhà tôi không còn nhớ gì đến Sài Gòn, nơi tôi sinh ra và có 18 năm lớn lên, mà thay vào đó là hình ảnh ngôi nhà nhỏ nằm cặp tuyến lộ vòng cung, nơi có ba má tôi và mấy đứa em nhỏ đang sống vất vả, khổ cực. Mỗi chuyến tôi về thăm nhà không phải vào dịp lễ lạt, Tết nhất, mà là bất cứ khi nào có có chút đỉnh tiền. Lần nào cũng vậy, trước khi bước vào nhà tôi lại ngước nhìn lên phía trên cánh cửa, nơi má tôi treo mấy trái cau và lá bùa dựng nêu. Nếu ở đó có cặp giò gà khô, có nghĩa là ngày mùng 3 Tết vừa qua nhà tôi có tiền mua gà cúng ông bà. Nhiều năm liền như vậy, tôi mong muốn được trông thấy cặp giò gà ấy biết bao mà không có.

Mấy chục năm trôi qua, em trai thứ bảy của tôi nay đã là giám đốc một công ty tầm cỡ ở TP. Hồ Chí Minh; phần tôi cũng đã có gia đình yên ấm ở Cần Thơ. Cứ đến ngày mùng 3 Tết hàng năm tôi lại nhớ đến cặp giò gà cúng mùng ba như nhớ đến một quảng thời gian không thể nào quên trong cuộc đời.

NGUYỄN TRUNG NGUYÊN

Mảnh ghép

Mùa xuân là thời khắc đẹp nhất trong năm, ai đi xa cũng mong mỏi đến ngày tết để tìm về không khí sum vầy ấm cúng cùng gia đình. Như bao gia đình khác nhà mình cũng đã có những mùa xuân ấp áp, yêu thương như thế và những mùa xuân đó sẽ còn mãi nếu không có ngày tết năm đó.

Ba bảo: “Mỗi con người là một mảnh ghép, mảnh ghép đó sẽ tạo nên một gia đình hoàn hảo khi tìm được cho mình những ghép khác. Mẹ là mảnh ghép đầu tiên trong cuộc đời của ba nhưng chỉ một mình mẹ thì chưa đủ để tạo nên sự hoàn hảo đó. Chỉ cho đến khi chị và con ra đời thì đó mới là những mảnh ghép cuối cùng tạo nên sự hoàn hảo trong gia đình mình”. Chị em con đã sống trong tình yêu thương vô bờ bến của ba và mẹ. Tụi con hạnh phúc khi được làm những mảnh ghép cuối cùng tạo nên sự hoàn hảo trong một gia đình.

Hôm đó đúng vào ngày tết, chị em con đang mừng thọ ông bà nội thì ba gọi về. Khi con bước vào nhà mẹ đang ngồi khóc nức nở, nép sau lưng ba là một cậu nhóc trạc tuổi con. Ba nhìn tụi con bối rối rồi chậm rãi bảo: “đây là em hai con”... Mảnh ghép thật sự là cuối cùng trong cuộc đời ba xuất hiện. Ba xin mẹ và các con tha thứ, mọi người lặng đi... Từng mảnh ghép tan vỡ...

Mùa xuân ấy và nhiều mùa xuân sau nữa nhà mình không còn những tiếng cười giòn giã như xưa.

Qua tết con và chị xa nhà đi học, đi như một sự trốn chạy. Tết đến khi mọi người háo hức trở về nhà thì tụi con lại lang thang trên những nẻo đường ngập nắng để cảm nhận nỗi nhớ nhà, nỗi buồn khi phải đối diện với ngày tết... Tết đã không còn ý nghĩa trong gia đình mình. Từ lúc nào con cũng quên mất khái niệm của ngày tết.

Năm năm đi qua chị hai lấy chồng, con ra trường cũng ở lại Sài Gòn, “mảnh ghép” của ba không biết biền biệt nơi nào, chỉ đúng ngày tết đến thăm ba một lần rồi ra đi.

Mẹ bảo “mảnh ghép” không được đến trường như chị em con. "Mảnh ghép" theo mẹ của nó sống một cuộc sống lam lũ, thà cày thuê cuốc mướn chứ không nhận những đồng tiền cấp dưỡng của ba. Rồi mẹ lại bảo ngày “mảnh ghép” cưới vợ, ba đến dự trong tư cách khách mời, đêm về mẹ nghe tiếng ba thở dài...

Thêm một mùa xuân nữa đang về, mẹ hỏi bao giờ con về? Con chạnh lòng lại tết nữa rồi sao? Chị hai nhắn tin “tết về sớm nghe nhóc. Quá khứ qua rồi nhóc ạ. Ba cần chị em mình thông cảm”.

Một tin nhắn nữa lại đến, lần này không phải của chị hai. “Cho phép em gọi chị là chị ba. Chị ba, em không giận ba, em yêu các chị” - tin nhắn của “mảnh ghép”. Đọc những dòng chữ chưa hết lỗi chính tả con òa khóc, áp điện thoại vào ngực mình để cảm nhận nỗi đau thức dậy trong tâm hồn. Phải chăng con đã quá ích kỷ?

Thêm một tin nhắn nữa lại đến: “con gái! mỗi con người là một mảnh ghép trong cuộc sống, "mảnh ghép" đó sẽ tạo nên một gia đình hoàn hảo khi con người biết hoàn thiện mình. Ba đã sai khi để những "mảnh ghép" của ba chịu nhiều đau khổ. Cả nhà đang mong con về”.

Ba ơi! Mùa xuân này những "mảnh ghép" của ba sẽ thôi không còn vụn vỡ nữa... Nhà mình sẽ vang những tiếng cười như xưa....!

LINH GIANG

Chiếc khuôn bánh in ngày cũ

Má tôi đã ngoài chín mươi, đã già yếu lắm, việc đời quên nhớ bất thường. Nhưng không ngờ vào ngày cận Tết năm nay má lại bảo: "Mấy đứa bây làm một ít bánh in cho tụi nhỏ ăn trong mấy ngày Tết. Cái khuôn bánh tao cất trong góc tủ chén". Kỷ niệm cái Tết thiếu thốn nhưng đầm ấm nhất, vui vẻ nhất cách nay trên năm mươi năm chợt ùa về...

Mẹ còn gom lá vườn quê - Ảnh: Phạm Kim Sơn dự thi Ảnh "Những nẻo đường xuân"

Sau hiệp định Genève vài tháng thì gia đình tôi rời vùng tản cư ở Ngã Cạy để về xã Thường Đông, nơi chôn nhau cắt rún để sinh sống. Nhà của tôi trước đây đã bị Tây đốt nay chỉ còn trơ lại cái nền với đầy cỏ dại. Lúc ấy tôi chỉ hơn mười tuổi đầu nhưng phải cố gắng phụ giúp ba má tôi dọn lại nền và dựng lên một căn nhà lá cột cau để sống tạm qua ngày.

Cuộc sống của mẹ con tôi ngày thêm vất vả. Má tôi nếu ngày nào không phải ra đồng để cấy thuê gặt mướn thì cũng đi mua củi chà củi ngọn về chặt ra, bó thành bó chất xuống xuồng đem ra chợ Cái Răng bán kiếm chút lời nhỏ nhoi; còn tôi nếu không ra đồng bắt con cua, con ốc thì cũng xuống bãi sông thụt lịch, xúc hến, bắt sò để có miếng ăn qua ngày. Bao vất vả nhọc nhằn cứ đè nặng mãi trên đôi vai gầy của má tôi làm cho người có lúc quên cả ngày tháng trong năm.

Một đêm nọ trời gần về sáng bỗng nghe tiếng quết bánh phồng của nhà hàng xóm, má tôi chợt nhớ ra là Tết sắp đến. Từ đó đến suốt ngày hôm sau dù đang làm việc gì má tôi cũng tỏ ra tư lự, đăm chiêu. Không biết má tôi đang suy nghĩ việc gì, chưa kịp hỏi thì người bảo tôi chặt tiếp củi và bó thành từng bó nhỏ để chở ra chợ bán. Trưa ngày hôm sau thì má tôi đi chợ về. Buộc xuồng xong, má tôi bưng lên một thúng trong đựng mấy trái dưa hấu nhỏ, gói đường cát mỡ gà, chai nước mắm, chai dầu lửa đỏ và đặc biệt bên hông có xấp vải trắng hiệu ba trái đào. Lúc lấy ra xấp vải má tôi nói là để may áo Tết cho tôi. Tôi mừng rơn trong lòng và càng thêm thương má. Má dành tất cả cho con.

Mấy hôm sau thì Tết đến. Má tôi cố gắng sắp xếp công việc để có thời gian dọn dẹp quanh nhà, tìm một mảnh ván vuông cỡ miếng gạch tàu để treo lên vách buồng làm bàn thờ ông bà, rồi dựng bàn ông Thiên bằng khúc gòn còn tươi… Chiều ba mươi Tết má còn bảo tôi xách đầy mấy lu nước. Thấy tôi è ạch từng thùng nước, bà động viên: Ráng xách đi con, đầu năm mà lu nước đầy thì năm mới làm ăn tốt đẹp hơn.

Cũng trong chiều 30 Tết ấy má tôi mở bọc lấy ra hai lít nếp đem rang cho vàng rồi xay thành bột để trộn với đường cát mỡ gà mua hôm trước làm bột bánh in. Má tôi lại mở bọc đựng đồ lặt vặt lấy ra một khuôn bánh in đã được cất kỹ trong suốt thời gian đi chạy giặc và tản cư. Má tôi chùi kỹ khuôn bánh rồi thoa lên một lớp dầu dừa sau đó bắt đầu gõ bánh.

Những cái bánh đầu tiên ra đời, tôi muốn ăn thử lắm rồi nhưng bà không cho và bảo rằng: Để má gõ đầy dĩa cúng ông bà cái đã, rồi sau đó con hãy ăn. Tôi ngồi nuốt nước miếng chờ đợi. Chỉ một lúc sau dĩa bánh cúng đã đầy. Má đưa cho tôi một cái bánh ăn thử. Tôi vừa cắn miếng bánh, cái ngọt của đường, cái thơm của nếp mới thau thau trong miệng. Từ trước đến giờ tôi chưa ăn cái bánh nào ngon hơn cái bánh in của má tôi làm năm ấy. Tôi lại xin thêm cái nữa để vừa ăn vừa chạy dọc theo lối xóm cùng mấy thằng bạn xem người ta chuẩn bị đón giao thừa. Chạy chơi một chặp, tôi lại chạy về để xin thêm cái nữa… Đến lúc lối xóm sắp đón giao thừa thì tôi mới trở về nhà. Lúc này má tôi đang cặm cụi trước đèn may cho xong chiếc áo để sáng mai tôi kịp mặc đón mừng năm mới.

LÊ MINH PHÁN

Bát chè kê đêm giao thừa

Chè kê - Ảnh: Tiến Đạt

Làng tôi trải dọc theo bờ sông Ngàn Phố trong vắt, uốn mình theo dải núi Thiên Nhẫn điệp trùng, bốn mùa lung linh soi bóng, đua nhau khoe sắc tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình hiếm nơi nào sánh nổi.

Thời thơ ấu của chùng tôi gắn chặt với bao kỷ niệm êm đềm, khắc sâu ký ức. Ngày ngày cắp sách tới trường làng; trưa hè đằm mình dưới làn nước mát rượi; buổi chiều thong thả lùa đàn bò lội qua sông.

Khi lũ bò lên triền đồi ung dung gặm cỏ, lũ trẻ mục đồng chúng tôi chia nhau từng tốp mải mê hái sim cho đầy túi áo, thỉnh thoảng gặp trái căng tròn mọng nước là đưa lên miệng thưởng thức khiến đôi môi đứa nào cũng điểm một màu son tím nhạt, nom thật buồn cười.

Trên nương, chỗ này nhộn nhịp cô bác ngắt ngọn chè, chỗ kia đào khoai mì vừa chớm độ thu hoạch. Nhưng nổi bật hơn hết giữa không gian mênh mang là những thửa kê vàng rộm, nhấp nhô đuổi nhau mỗi khi cơn gió nồm nam mơn man lướt qua. Đẹp vô ngần, bởi bông kê đều đặn, chi chít hạt gắn kết, uốn cong tựa đuôi sóc, chín rộ hứa hẹn những bát chè thơm lựng…

Cùng với bánh chưng bánh tét, thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ, món chè kê được coi là sản phẩm dân dã truyền thống không thể thiếu của gia đình chúng tôi đêm giao thừa.

Chế biến kê tuy đơn giản nhưng là cả một nghệ thuật, bởi không phải ai cũng nấu được chè như ý. Giáp Tết, lấy kê từ trong thùng ra, xay vỏ chắt lọc nhân kỹ lưỡng. Công đoạn tiếp theo là giã cho hạt được đánh bóng, rồi đêm 30 đãi sạch, để vài giờ. Xong, bắc nồi nước đun sôi, cho kê vào, dùng đũa tre liên tục khuấy đến khi đặc quánh, đổ mật mía vừa đủ độ ngọt, trộn gừng giã nhỏ đảo đếu, đợi chín tới, múc ra chén, sắp lên bàn thờ dâng cúng tổ tiên.

Gần 20 năm đón xuân tại quê nhà cũng là 20 lần anh em tôi ngồi bên bếp lửa hồng chăm chú xem mẹ thao tác trọn vẹn “đặc sản” chè kê xứ Nghệ. Làm sao quên được mùi thơm dịu dàng của hạt kê quyện chặt với hương vị ngọt lịm của mật mía!

Gần 40 năm xa nhà, thiếu vắng bát chè kê mẹ nấu, mỗi độ giao thừa, lòng con thao thức, đau đáu nhìn về phương Bắc, nhớ đến nao lòng, khắc khoải, mẹ ơi!

NGUYỄN TIẾN ĐẠT (Lâm Đồng)

Những chiếc bánh cốm thuở nhỏ

Ngày trước, một trong những sản vật không thể thiếu trong những ngày Tết ở quê tôi là những chiếc bánh cốm to đùng, gia đình nào cũng tự làm để cúng tổ tiên, đãi khách. Thời ấy, có lẽ do nghèo quá nên chỉ có những chiếc bánh to hơn cả viên gạch này người ta ăn mới đã! Đó cũng là món ăn mà bọn trẻ chúng tôi luôn háo hức chờ đợi vì nó là tín hiệu Tết đã đến.

Người làng tôi lấy sự tiến bộ của “công nghệ” làm bánh cốm để đánh dấu sự phát triển của thời đại. Những năm 80 của thế kỷ trước, quê tôi làm bánh cốm còn hoàn toàn thủ công. Cuối năm, nhà nào cũng chuẩn bị vài mươi ký nếp thóc. Năm bảy nhà tập trung lại làm lò rang nếp. Một cái chảo to đùng đặt giữa bếp lò đỏ rực, người ta thay phiên nhau dùng những đôi đũa tre dài để khấy cho nếp nổ đều, bóc vỏ. Rang xong, nếp đổ ra nia, phụ nữ thi nhau sàng để bỏ vỏ. Nhà nào nhà nấy hì hục giã. Đường đen nạo sẵn dào vào bột nếp, chà đều cho đường và bột quyện vào nhau. Sau khi ủ bột một đêm, nhà nào nhà nấy lại hì hục dện cốm bằng những khuôn gỗ to hơn viên gạch.

Cả làng chỉ có vài cái khuôn gốm, mỗi lần dện cốm phải chạy mượn khắp làng. Bọn trẻ chúng tôi luôn thèm thuồng nhìn những bánh cốm chất đầy nia. Thỉnh thoảng được người lớn cho vài nắm bột thừa, cả bọn mừng húm, miệng đứa nào đứa nấy dính đầy bột, trắng phau. Sau khi dện cốm, ba má tôi thường dùng dao cắt gọt cho đều những góc cạnh của bánh cốm. Hai anh em tôi háo hức đứng chờ để xí từng phần bột thừa. Một lần nọ, khi người lớn đi vắng, anh em tôi len lén bẻ dần, bẻ dần từng góc cạnh của những chiếc bánh cốm. Hai đứa không dám lấy ăn hẳn một bánh mà cái nào cũng bị bẻ nham nhở. Khi ba má về, hai anh em tôi bị một trận đòn nên thân.

Những năm 90, “công nghệ” làm cốm quê tôi tiên tiến hơn. Những ngày cuối tháng Chạp, cứ một lát lại nghe một tiếng “đùng” rất to, rất đã. Đó là tiếng “rang nổ”, có người gọi là “bụp” cốm. Bấy giờ, nếp không còn rang bằng chảo nữa. Gạo nếp bỏ vào một cái ống gang đúc, khóa kín, đốt nóng, xoay đều cho nếp nổ. Khi rang xong, người ta đập một cái để mở nắp ống gan, một tiếng nổ “đùng” dội cả vùng, nghe quen thuộc nhưng có người vẫn giật mình. Người ta không còn giã bột cốm nữa mà đã có máy xay, ai cũng trầm trồ khen hiện đại. Cả làng chỉ có một lò “rang nổ” nên phụ nữ, trẻ em mang nếp xếp hàng chờ cả ngày mới đến lượt. Thế nhưng, người ta không mệt mỏi, cáu gắt; ngược lại ở lò “rang nổ” lúc nào cũng đúng là vui như Tết. Gần Tết, gặp nhau người ta hỏi thăm “năm nay nhà ăn Tết mấy đùng?”. Người làng tôi dùng tiếng “đùng” của rang cốm làm đơn vị đo lường mức độ ăn Tết tô hay nhỏ của mỗi nhà.

Tiếng “đùng” rang cốm ở quê tôi ngày càng thưa dần. Những Tết gần đây, âm thanh thân quen ấy đã mất hẳn. Năm nay, quê tôi có hẳn một cái máy làm cốm theo công nghệ hiện đại của một cơ sở mua về Đà Nẵng. Chỉ cần đưa đến vài ký nếp, dây chuyền khép kín này sẽ cho ra những chiếc bánh cốm trắng tinh, mịn màng, vuông vức, góc cạnh sắc sảo. Thế nhưng, vẫn không có mấy người đưa nếp đến làm hay mua cốm. Bây giờ, đời sống khá hơn, ngày Tết trong nhà đã có nhiều loại bánh trái, thức ăn; người ta không nhất thiết phải làm cốm nữa.

Với tôi, những nắm bột cốm tranh nhau xí phần ngày nào, những miếng cốm bẻ trộm từ các góc cạnh của chiếc bánh cốm ngày xưa vẫn là món ăn ngon nhất trong ngày Tết thuở nhỏ. Tết lại về, làm sao quên được!

TẤN LỘC